Tìm Kiếm

11 tháng 10, 2026

Twenty-ninth Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (October 18, 2026)

Daily Mass Reading Podcast for October 18, 2026


First Reading (Isaiah 45:1, 4-6)

A reading from the Book of the Prophet Isaiah

Thus says the LORD to his anointed, Cyrus,
whose right hand I grasp,
subduing nations before him,
and making kings run in his service,
opening doors before him
and leaving the gates unbarred:
For the sake of Jacob, my servant,
of Israel, my chosen one,
I have called you by your name,
giving you a title, though you knew me not.
I am the LORD and there is no other,
there is no God besides me.
It is I who arm you, though you know me not,
so that toward the rising and the setting of the sun
people may know that there is none besides me.
I am the LORD, there is no other.

The word of the Lord.

Bài đọc 1 (Is 45:1, 4-6)

Đức Chúa đã cầm lấy tay phải vua Ky-rô để bắt các dân tộc suy phục ông.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

1Đức Chúa phán với kẻ Người đã xức dầu, với vua Ky-rô
- Ta đã cầm lấy tay phải nó,
để bắt các dân tộc suy phục nó,
Ta tước khí giới của các vua,
mở toang các cửa thành trước mặt nó,
khiến các cổng không còn đóng kín nữa.
4Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp,
và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en,
Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu,
dù ngươi không biết Ta.
5Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác ;
chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta.
Dù ngươi không biết Ta, Ta đã trang bị cho ngươi đầy đủ,
6để từ Đông sang Tây, thiên hạ biết rằng
chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta.
Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác.

Đó là Lời Chúa.

Responsorial Psalm (Psalm 96:1, 3, 4-5, 7-8, 9-10) -  EM pages 231-232



R. (7b) Give the Lord glory and honor.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Sing to the LORD a new song;
sing to the LORD, all you lands.
Tell his glory among the nations;
among all peoples, his wondrous deeds.
R. Give the Lord glory and honor.
1 Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu !
3 kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển,
cho mọi nước hay những kỳ công của Người.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

For great is the LORD and highly to be praised;
awesome is he, beyond all gods.
For all the gods of the nations are things of nought,
but the LORD made the heavens.
R. Give the Lord glory and honor.
4 Chúa thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng,
khả tôn khả uý hơn chư thần,
5 vì chư thần các nước thảy đều hư ảo,
còn Đức Chúa, Người sáng tạo trời cao.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Give to the LORD, you families of nations,
give to the LORD glory and praise;
give to the LORD the glory due his name!
Bring gifts, and enter his courts.
R. Give the Lord glory and honor.
7 Hãy dâng Chúa, hỡi các dân các nước,
dâng Chúa quyền lực và vinh quang,
8a hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Worship the LORD, in holy attire;
tremble before him, all the earth;
say among the nations: The LORD is king,
he governs the peoples with equity.
R. Give the Lord glory and honor.
8b Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình Chúa,
9 và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện,
toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan.
10ac Hãy nói với chư dân : Chúa là Vua hiển trị,
Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Second Reading (1 Thessalonians 1:1-5b)

A reading from the first Letter of Saint Paul to the Thessalonians

Paul, Silvanus, and Timothy to the church of the Thessalonians
in God the Father and the Lord Jesus Christ:
grace to you and peace.
We give thanks to God always for all of you,
remembering you in our prayers,
unceasingly calling to mind your work of faith and labor of love
and endurance in hope of our Lord Jesus Christ,
before our God and Father,
knowing, brothers and sisters loved by God,
how you were chosen.
For our gospel did not come to you in word alone,
but also in power and in the Holy Spirit and with much conviction.

The word of the Lord.

Bài đọc 2 (1 Tx 1:1-5b)

Chúng tôi nhớ đến lòng tin, lòng mến và lòng trông cậy của anh em.

Khởi đầu thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca.

1 Chúng tôi là Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê, kính gửi Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca ở trong Thiên Chúa Cha, và trong Chúa Giê-su Ki-tô. Chúc anh em được ân sủng và bình an.

2 Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em. Chúng tôi nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện, 3 và trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta, chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô.

4 Thưa anh em là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn anh em, 5b vì khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa.

Đó là Lời Chúa.

Hallelujah (Philippians 2:15d, 16a)

R. Hallelujah, Hallelujah.
Shine like lights in the world
as you hold on to the word of life.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (Pl 2:15d, 16a)

Hallelujah. Hallelujah. Giữa thế gian, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòng trời, là làm sáng tỏ lời ban sự sống. Hallelujah.

Gospel (Matthew 22:15-21)

A reading from the holy Gospel according to Saint Matthew

The Pharisees went off
and plotted how they might entrap Jesus in speech. 
They sent their disciples to him, with the Herodians, saying,
"Teacher, we know that you are a truthful man
and that you teach the way of God in accordance with the truth.
And you are not concerned with anyone's opinion,
for you do not regard a person's status.
Tell us, then, what is your opinion:
Is it lawful to pay the census tax to Caesar or not?" 
Knowing their malice, Jesus said,
"Why are you testing me, you hypocrites? 
Show me the coin that pays the census tax." 
Then they handed him the Roman coin. 
He said to them, "Whose image is this and whose inscription?" 
They replied, "Caesar's."
At that he said to them,
"Then repay to Caesar what belongs to Caesar
and to God what belongs to God."

The Gospel of the Lord.

Tin Mừng (Mt 22:15-21)

Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

15 Khi ấy, những người Pha-ri-sêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giê-su phải lỡ lời mà mắc bẫy. 16 Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hê-rô-đê, đến nói với Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. 17 Vậy xin Thầy cho biết ý kiến : có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ?”

18 Nhưng Đức Giê-su biết họ có ác ý, nên Người nói : “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ đạo đức giả ! 19 Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế !” Họ liền đưa cho Người một quan tiền. 20 Người hỏi họ : “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” 21 Họ đáp : “Của Xê-da.” Bấy giờ, Người bảo họ : “Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.”

Đó là Lời Chúa.

Prayer of the Faithful




7 tháng 10, 2026

Hymns for the Twenty-eighth Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (October 11, 2026)

 -Entrance Hymn: ES # 189 “I Sing The Mighty Power Of God”


-Responsorial Psalm (Psalm 23:1-3a, 3b-4, 5, 6) - EM pages 229-230



R. (6cd) I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
Đ. Này tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.

The LORD is my shepherd; I shall not want.
In verdant pastures he gives me repose;
beside restful waters he leads me;
he refreshes my soul.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
1 Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
2 Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
3a và bổ sức cho tôi.
Đ. Này tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.

He guides me in right paths
for his name's sake.
Even though I walk in the dark valley
I fear no evil; for you are at my side
with your rod and your staff
that give me courage.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
3b Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.
4 Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

You spread the table before me
in the sight of my foes;
you anoint my head with oil;
my cup overflows.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
5 Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc
ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

Only goodness and kindness follow me
all the days of my life;
and I shall dwell in the house of the LORD
for years to come.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
6 Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

Hallelujah (Cf. Ephesians 1:17-18)

R. Hallelujah, Hallelujah.
May the Father of our Lord Jesus Christ
enlighten the eyes of our hearts,
so that we may know what is the hope
that belongs to our call.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (xin coi Ep 1:17-18)

Hallelujah. Hallelujah. Xin Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, soi trí mở lòng cho chúng ta thấy rõ, đâu là niềm hy vọng, mà ơn Người kêu gọi đem lại cho chúng ta. Hallelujah.

Prayer of the Faithful


-Offertory Hymn: ES # 187 "The Supper Of The Lord"


-Communion Hymn: ES # 320 “The God Of All Grace”


-Recessional Hymn: ES # 386 “Salve, Regina”



The Holy Spirit Choir

6 tháng 10, 2026

Twenty-eighth Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (October 11, 2026)

Daily Mass Reading Podcast for October 11, 2026


First Reading (Isaiah 25:6-10a)

A reading from the Book of the Prophet Isaiah

On this mountain the LORD of hosts
will provide for all peoples
a feast of rich food and choice wines,
juicy, rich food and pure, choice wines.
On this mountain he will destroy
the veil that veils all peoples,
the web that is woven over all nations;
he will destroy death forever.
The Lord GOD will wipe away
the tears from every face;
the reproach of his people he will remove
from the whole earth; for the LORD has spoken.
On that day it will be said:
"Behold our God, to whom we looked to save us!
This is the LORD for whom we looked;
let us rejoice and be glad that he has saved us!"
For the hand of the LORD will rest on this mountain.

The word of the Lord.

Bài đọc 1 (Is 25:6-10a)

Đức Chúa sẽ đãi một bữa tiệc và sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

6Ngày ấy, trên núi này,
Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc :
tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon,
thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế.
7Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn che phủ mọi dân,
và tấm màn trùm lên muôn nước.
8Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần.
Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ
trên khuôn mặt mọi người,
và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch
nỗi ô nhục của dân Người. Đức Chúa phán như vậy.
9Ngày ấy, người ta sẽ nói : “Đây là Thiên Chúa chúng ta,
chúng ta từng trông đợi Người,
và đã được Người thương cứu độ.
Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông.
Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ.”
10aVì bàn tay Đức Chúa sẽ lại đặt trên núi này.

Đó là Lời Chúa.

Responsorial Psalm (Psalm 23:1-3a, 3b-4, 5, 6) - EM pages 229-230



R. (6cd) I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
Đ. Này tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.

The LORD is my shepherd; I shall not want.
In verdant pastures he gives me repose;
beside restful waters he leads me;
he refreshes my soul.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
1 Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
2 Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
3a và bổ sức cho tôi.
Đ. Này tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.

He guides me in right paths
for his name's sake.
Even though I walk in the dark valley
I fear no evil; for you are at my side
with your rod and your staff
that give me courage.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
3b Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.
4 Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

You spread the table before me
in the sight of my foes;
you anoint my head with oil;
my cup overflows.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
5 Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc
ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

Only goodness and kindness follow me
all the days of my life;
and I shall dwell in the house of the LORD
for years to come.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
6 Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

Second Reading (Philippians 4:12-14, 19-20)

A reading from the Letter of Saint Paul to the Philippians

Brothers and sisters:
I know how to live in humble circumstances;
I know also how to live with abundance.
In every circumstance and in all things
I have learned the secret of being well fed and of going hungry,
of living in abundance and of being in need. 
I can do all things in him who strengthens me. 
Still, it was kind of you to share in my distress.

My God will fully supply whatever you need,
in accord with his glorious riches in Christ Jesus.
To our God and Father, glory forever and ever. Amen.

The word of the Lord.

Bài đọc 2 (Pl 4:12-14, 19-20)

Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Phi-líp-phê.

12 Thưa anh em, tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả. 13 Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết. 14 Tuy nhiên, anh em đã chia sẻ với tôi, khi tôi gặp cơn quẫn bách, như thế là phải. 19 Thiên Chúa của tôi sẽ thoả mãn mọi nhu cầu của anh em một cách tuyệt vời, theo sự giàu sang của Người trong Đức Ki-tô Giê-su. 20 Xin tôn vinh Thiên Chúa là Cha chúng ta, đến muôn thuở muôn đời ! A-men.

Đó là Lời Chúa.

Hallelujah (Cf. Ephesians 1:17-18)

R. Hallelujah, Hallelujah.
May the Father of our Lord Jesus Christ
enlighten the eyes of our hearts,
so that we may know what is the hope
that belongs to our call.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (xin coi Ep 1:17-18)

Hallelujah. Hallelujah. Xin Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, soi trí mở lòng cho chúng ta thấy rõ, đâu là niềm hy vọng, mà ơn Người kêu gọi đem lại cho chúng ta. Hallelujah.

Gospel (Matthew 22:1-14)

A reading from the holy Gospel according to Saint Matthew

Jesus again in reply spoke to the chief priests and elders of the people 
in parables, saying, 
"The kingdom of heaven may be likened to a king
who gave a wedding feast for his son. 
He dispatched his servants
to summon the invited guests to the feast,
but they refused to come.
A second time he sent other servants, saying,
'Tell those invited: "Behold, I have prepared my banquet,
my calves and fattened cattle are killed,
and everything is ready; come to the feast."'
Some ignored the invitation and went away,
one to his farm, another to his business. 
The rest laid hold of his servants,
mistreated them, and killed them. 
The king was enraged and sent his troops,
destroyed those murderers, and burned their city. 
Then he said to his servants, 'The feast is ready,
but those who were invited were not worthy to come. 
Go out, therefore, into the main roads
and invite to the feast whomever you find.'
The servants went out into the streets
and gathered all they found, bad and good alike,
and the hall was filled with guests. 
But when the king came in to meet the guests,
he saw a man there not dressed in a wedding garment. 
The king said to him, 'My friend, how is it
that you came in here without a wedding garment?'
But he was reduced to silence.
Then the king said to his attendants, 'Bind his hands and feet,
and cast him into the darkness outside,
where there will be wailing and grinding of teeth.'
Many are invited, but few are chosen."

The Gospel of the Lord.

Tin Mừng (Mt 22:1-14)

Gặp ai, anh em cũng mời hết vào tiệc cưới.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : 2 “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. 3 Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến. 4 Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ : ‘Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng : Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới !’ 5 Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi : kẻ thì đi thăm nông trại, người thì đi buôn, 6 còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà hành hạ và giết chết. 7 Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng. 8 Rồi nhà vua bảo đầy tớ : ‘Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. 9 Vậy các ngươi đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.’ 10 Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.

11 “Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, 12 mới hỏi người ấy : ‘Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới ?’ Người ấy câm miệng không nói được gì. 13 Nhà vua liền bảo những người phục dịch : ‘Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng ! 14 Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít’.”

Đó là Lời Chúa.

Prayer of the Faithful




1 tháng 10, 2026

Hymns for the Solemnity of the Most Holy Rosary (Oct 4, 2026)

 -Entrance Hymn: ES # 381 “Magnificat”



-Responsorial Psalm (1 Sm 2:1, 4-5, 6-7, 8abcd) - EM pages 273-274

R. (see 1a) My heart exults in the Lord, my Savior.
Ðáp: Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, Ðấng Cứu độ tôi.

“My heart exults in the LORD,
my horn is exalted in my God.
I have swallowed up my enemies;
I rejoice in my victory.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng: 
Tâm hồn con hoan hỷ vì Đức Chúa,
nhờ Đức Chúa, con ngẩng đầu hiên ngang.
Con mở miệng nhạo báng quân thù:
Vâng, con vui sướng vì được Ngài cứu độ.

“The bows of the mighty are broken,
while the tottering gird on strength.
The well-fed hire themselves out for bread,
while the hungry batten on spoil.
The barren wife bears seven sons,
while the mother of many languishes.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng:
Cung nỏ người hùng bị bẻ tan,
kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng.
Người no phải làm mướn kiếm ăn,
còn kẻ đói được an nhàn thư thái.
Người hiếm hoi thì sinh năm đẻ bảy,
mẹ nhiều con lại ủ rũ héo tàn.

“The LORD puts to death and gives life;
he casts down to the nether world;
he raises up again.
The LORD makes poor and makes rich,
he humbles, he also exalts.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng:
Đức Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử,
đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên.
Đức Chúa bắt phải nghèo và cho giàu có,
Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao.

“He raises the needy from the dust;
from the dung heap he lifts up the poor,
To seat them with nobles
and make a glorious throne their heritage.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng:
Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi,
ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro,
đặt ngồi chung với hàng quyền quý,
tặng ngai vinh hiển làm sản nghiệp riêng.

Hallelujah (Lk 1:28)

R. Hallelujah, Hallelujah.
Hail Mary, full of grace, the Lord is with you;
blessed are you among women.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Hallelujah (Lc 1:28)

Hallelujah, Hallelujah! – Kính chào Đức Ma-ri-a, Mẹ đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc hơn mọi người phụ nữ. – Hallelujah.


Prayer Of The Faithful


-Offertory Hymn: "Lord, We Gather Today"



-Communion Hymn: ES # 326 “All Good Gifts”


-Recessional Hymn: ES # 385 “Immaculate Mary”



The Holy Spirit Choir

30 tháng 9, 2026

Solemnity of the Most Holy Rosary (Oct 4, 2026)

fathervalan.org

First Reading: (Acts 1:12-14)

A reading from the Acts of the Apostles

After Jesus had been taken up into heaven,
the Apostles returned to Jerusalem
from the mount called Olivet, which is near Jerusalem,
a sabbath day's journey away.

When they entered the city
they went to the upper room where they were staying,
Peter and John and James and Andrew,
Philip and Thomas, Bartholomew and Matthew,
James son of Alphaeus, Simon the Zealot,
and Judas son of James.
All these devoted themselves with one accord to prayer,
together with some women,
and Mary the mother of Jesus, and his brothers.

The word of the Lord.

Bài Đọc I: (Cv 1:12-14)

Các Tông Đồ chuyên cần cầu nguyện cùng với bà Ma-ri-a, thân mẫu Đức Giê-su.

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

12 Sau khi Đức Giê-su được rước lên trời, các Tông Đồ từ núi gọi là núi Ô-liu trở về Giê-ru-sa-lem. Núi này ở gần Giê-ru-sa-lem, cách đoạn đường được phép đi trong ngày sa-bát. 13 Trở về nhà, các ông lên lầu trên, là nơi các ông trú ngụ. Đó là các ông : Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê, An-rê, Phi-líp-phê, Tô-ma, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn thuộc nhóm Nhiệt Thành, và Giu-đa con ông Gia-cô-bê. 14 Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a thân mẫu Đức Giê-su, và với anh em của Đức Giê-su.

Đó là Lời Chúa.

Responsorial Psalm (1 Sm 2:1, 4-5, 6-7, 8abcd) - EM pages 273-274

R. (see 1a) My heart exults in the Lord, my Savior.
Ðáp: Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, Ðấng Cứu độ tôi.

“My heart exults in the LORD,
my horn is exalted in my God.
I have swallowed up my enemies;
I rejoice in my victory.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng: 
Tâm hồn con hoan hỷ vì Đức Chúa,
nhờ Đức Chúa, con ngẩng đầu hiên ngang.
Con mở miệng nhạo báng quân thù:
Vâng, con vui sướng vì được Ngài cứu độ.

“The bows of the mighty are broken,
while the tottering gird on strength.
The well-fed hire themselves out for bread,
while the hungry batten on spoil.
The barren wife bears seven sons,
while the mother of many languishes.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng:
Cung nỏ người hùng bị bẻ tan,
kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng.
Người no phải làm mướn kiếm ăn,
còn kẻ đói được an nhàn thư thái.
Người hiếm hoi thì sinh năm đẻ bảy,
mẹ nhiều con lại ủ rũ héo tàn.

“The LORD puts to death and gives life;
he casts down to the nether world;
he raises up again.
The LORD makes poor and makes rich,
he humbles, he also exalts.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng:
Đức Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử,
đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên.
Đức Chúa bắt phải nghèo và cho giàu có,
Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao.

“He raises the needy from the dust;
from the dung heap he lifts up the poor,
To seat them with nobles
and make a glorious throne their heritage.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng:
Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi,
ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro,
đặt ngồi chung với hàng quyền quý,
tặng ngai vinh hiển làm sản nghiệp riêng.

Second Reading (Gal 4:4-7)

A reading from the Letter of Saint Paul to the Galatians

Brothers and sisters:
When the fullness of time had come, God sent his Son, born of a woman, born under the law, to ransom those under the law, so that we might receive adoption as sons. As proof that you are sons, God sent the Spirit of his Son into our hearts, crying out, “Abba, Father!” So you are no longer a slave but a son, and if a son then also an heir, through God.

The word of the Lord.

Bài Ðọc 2: (Gl 4:4-7)

Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ga-lát.

4 Thưa anh em, khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ, và sống dưới Lề Luật, 5 để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. 6 Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên : “Áp-ba, Cha ơi !” 7 Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Hallelujah (Lk 1:28)

R. Hallelujah, Hallelujah.
Hail Mary, full of grace, the Lord is with you;
blessed are you among women.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Hallelujah (Lc 1:28)

Hallelujah, Hallelujah! – Kính chào Đức Ma-ri-a, Mẹ đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc hơn mọi người phụ nữ. – Hallelujah.

Gospel: (Lk 1:26-38)

A reading from the holy Gospel according to Saint Luke

The angel Gabriel was sent from God
to a town of Galilee called Nazareth,
to a virgin betrothed to a man named Joseph,
of the house of David,
and the virgin's name was Mary.
And coming to her, he said,
"Hail, full of grace! The Lord is with you."
But she was greatly troubled at what was said
and pondered what sort of greeting this might be.
Then the angel said to her,
"Do not be afraid, Mary,
for you have found favor with God.
Behold, you will conceive in your womb and bear a son,
and you shall name him Jesus.
He will be great and will be called Son of the Most High,
and the Lord God will give him the throne of David his father,
and he will rule over the house of Jacob forever,
and of his Kingdom there will be no end."
But Mary said to the angel,
"How can this be,
since I have no relations with a man?"
And the angel said to her in reply,
"The Holy Spirit will come upon you,
and the power of the Most High will overshadow you.
Therefore the child to be born
will be called holy, the Son of God.
And behold, Elizabeth, your relative,
has also conceived a son in her old age,
and this is the sixth month for her who was called barren;
for nothing will be impossible for God."
Mary said, "Behold, I am the handmaid of the Lord.
May it be done to me according to your word."
Then the angel departed from her.

The Gospel of the Lord.

Tin Mừng: (Lc 1:26-38)

Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

26 Khi ấy, bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

30 Sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa. 31 Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?”

35 Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, 37 vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói với sứ thần : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

Ðó là lời Chúa.

Prayer Of The Faithful




OCTOBER - HAPPY FEAST DAY TO HOLY SPIRIT CHOIR'S MEMBERS

 

Thánh Tê-rê-sa Hài đồng Giê-su


Trần Ngọc Thùy Châu
Bùi Thị Ngọc Diệp
Lâm Thái Hằng
Lâm Đăng Hân
Lưu Thu Hồng
Hoàng Thị Khanh
Đinh Thị Hoàng Kim
Đinh Thị Quỳnh Như
Nguyễn Thị Ngọc Linh
Nguyễn Trần Thảo Linh
Nguyễn Tuyết Linh
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Nguyễn Ngọc Nhật Minh
Nguyễn Kim Phượng
Đinh Lam Thơ
Bùi Thị Thùy Trang
Phạm Ngọc Lũy Tố
Phạm Thị Huyền Trâm
Đỗ Thanh Thoại Vi
Hồ Phúc Vinh
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Nguyễn Thị Hồng Hà
Hồ Thị Thanh Huyền
Nguyễn Thị Bích Linh


The Holy Spirit Choir


OCTOBER - HAPPY BIRTHDAY TO HOLY SPIRIT CHOIR'S MEMBERS



1- 10 Mat-ta Nguyễn Thị Thanh Loan
2- 10 Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu Nguyễn Thị Thanh Xuân
3- 10 Giu-se Bùi Phương Anh
4- 10 Ma-ri-a Go-get-ti Cao Thuỳ Dung
7- 10 Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu Hoàng Thị Khanh
8- 10 Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu Lâm Đăng Hân
9- 10 Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu Nguyễn Tuyết Linh
11- 10 Lê-Ô Cả Nguyễn Tim Thiên Minh
12 - 10 Gio-a-kim Đoàn Quang Vinh Sơn
13- 10 Ma-ri-a Trần Thị Nga
14- 10 Ma-ri-a Nguyễn Thị Báu
14- 10 Ma-ri-a Nguyễn Ý Thu Tâm
16 - 10 Ma-ri-a Nguyễn Thị Minh Châu
19- 10 Ma-ri-a Lê Thị Huyền Châu
20- 10 An-na Nguyễn Thị Thúy Kiều
21- 10 Ma-ri-a Trần Thanh Tú Quyên
22- 10 Ma-ri-a Trần Thị Liễu My
26- 10 An-na Trần Thị Liên
26- 10 An-na Trần Thanh Trúc
27- 10 Phao-lô Lã Quang Bình
31- 10 Ma-ri-a Trần Thị Mai Trâm


The Holy Spirit Choir

20 tháng 9, 2026

Hymns for the Twenty-sixth Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (September 27, 2026)

 -Entrance Hymn: ES # 152 “Praise To The Lord”


-Responsorial Psalm (Psalm 25:4-5, 6-7, 8-9) - EM page 225


R. (6a) Remember your mercies, O Lord.
Đ. Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu của Ngài.

Your ways, O LORD, make known to me;
teach me your paths,
guide me in your truth and teach me,
for you are God my savior.
R. Remember your mercies, O Lord.
4 Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết,
lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con.
5 Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ,
vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con.
Sớm hôm con những cậy trông Ngài, bởi vì Ngài nhân ái.
Đ. Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu của Ngài.

Remember that your compassion, O LORD,
and your love are from of old.
The sins of my youth and my frailties remember not;
in your kindness remember me,
because of your goodness, O LORD.
R. Remember your mercies, O Lord.
6 Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu
Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời.
7 Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi, xin Ngài đừng nhớ đến,
nhưng xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng.
Đ. Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu của Ngài.

Good and upright is the LORD;
thus he shows sinners the way.
He guides the humble to justice, 
and teaches the humble his way.
R. Remember your mercies, O Lord.
8 Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân,
9 dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính,
dạy cho biết đường lối của Người.
Đ. Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu của Ngài.

Hallelujah (John 10:27)

R. Hallelujah, Hallelujah.
My sheep hear my voice, says the Lord;
I know them, and they follow me.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (Ga 10:27)

Hallelujah. Hallelujah. Chúa nói : Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi ; tôi biết chúng, và chúng theo tôi. Hallelujah.

Prayer of the Faithful


-Offertory Hymn: ES # 173 “Our Bleesing Cup”


-Communion Hymn: ES # 331 “Christ, Be Our Light”


-Recessional Hymn: ES # 378 “Hail, Holy Queen”



The Holy Spirit Choir