Tìm Kiếm

14 tháng 6, 2026

Twelfth Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (June 21, 2026)

loi-nhap-the.com

Daily Mass Reading Podcast for June 21, 2026


First Reading (Jeremiah 20:10-13)

A reading from the Book of the Prophet Jeremiah

Jeremiah said:
"I hear the whisperings of many:
'Terror on every side!
Denounce! let us denounce him!'
All those who were my friends
are on the watch for any misstep of mine.
'Perhaps he will be trapped; then we can prevail,
and take our vengeance on him.'
But the LORD is with me, like a mighty champion:
my persecutors will stumble, they will not triumph.
In their failure they will be put to utter shame,
to lasting, unforgettable confusion.
O LORD of hosts, you who test the just,
who probe mind and heart,
let me witness the vengeance you take on them,
for to you I have entrusted my cause.
Sing to the LORD,
praise the LORD,
for he has rescued the life of the poor
from the power of the wicked!"

The word of the Lord.

Bài đọc 1 (Gr 20:10-13)

Chúa đã giải thoát kẻ cơ bần khỏi tay người hung ác.

Bài trích sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a.

10Ngôn sứ Giê-rê-mi-a nói :
Lạy Đức Chúa, con nghe biết bao người vu cáo :
“Kìa, lão ‘Tứ phía kinh hoàng !’, hãy tố cáo, hãy tố cáo nó đi !”
Tất cả những bạn bè thân thích đều rình xem con vấp ngã.
Họ nói : “Biết đâu nó chẳng mắc lừa,
rồi chúng ta sẽ thắng và trả thù được nó !”
11Nhưng Đức Chúa hằng ở bên con
như một trang chiến sĩ oai hùng.
Vì thế những kẻ từng hại con
sẽ thất điên bát đảo, sẽ không thắng nổi con.
Chúng sẽ phải thất bại, và nhục nhã ê chề :
đó là một nỗi nhục muôn đời không thể quên.
12Lạy Đức Chúa các đạo binh,
Đấng dò xét người công chính, Đấng thấu suốt tâm can,
con sẽ thấy Ngài trị tội chúng đích đáng,
vì con đã giãi bày cơ sự cùng Ngài.
13Hãy ca tụng Đức Chúa, hãy ngợi khen Đức Chúa,
vì Người đã giải thoát kẻ cơ bần khỏi tay phường hung bạo.

Đó là Lời Chúa.

Responsorial Psalm (Psalm 69:8-10, 14, 17, 33-35) - EM page 199

R. (14c) Lord, in your great love, answer me.
Đ. Lạy Chúa, xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày.

For your sake I bear insult,
and shame covers my face.
I have become an outcast to my brothers,
a stranger to my mother's children,
Because zeal for your house consumes me,
and the insults of those who blaspheme you fall upon me.
R. Lord, in your great love, answer me.
8 Âu cũng vì Ngài, mà con bị người đời thoá mạ,
chịu nhuốc nhơ phủ lấp mặt mày.
9 Anh em nhà kể con như người dưng nước lã,
hàng máu mủ xem con bằng khách lạ mà thôi.
10 Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà con phải thiệt thân.
Lời kẻ thoá mạ Ngài, này chính con hứng chịu.
Đ. Lạy Chúa, xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày.

I pray to you, O LORD,
for the time of your favor, O God!
In your great kindness answer me
with your constant help.
Answer me, O LORD, for bounteous is your kindness;
in your great mercy turn toward me.
R. Lord, in your great love, answer me.
14 Lạy Chúa, phần con xin dâng Ngài lời nguyện,
lạy Chúa Trời, đây giờ phút thi ân.
Xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày,
vì Chúa vẫn trung thành ban ơn cứu độ.
17 Lạy Chúa, xin lấy lòng nhân hậu mà đáp lại lời con ;
xin mở lượng hải hà mà đoái thương nhìn đến.
Đ. Lạy Chúa, xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày.

"See, you lowly ones, and be glad;
you who seek God, may your hearts revive!
For the LORD hears the poor,
and his own who are in bonds he spurns not.
Let the heavens and the earth praise him,
the seas and whatever moves in them!''
R. Lord, in your great love, answer me.
33 Những ai nghèo hèn, xem đấy mà vui lên,
người tìm Thiên Chúa, hãy nức lòng phấn khởi.
34 Vì Chúa nhận lời kẻ nghèo khó,
chẳng coi khinh thân hữu bị giam cầm.
35 Ca tụng Chúa đi, hỡi trời cao đất thấp,
hỡi biển sâu cùng hải vật muôn vàn !
Đ. Lạy Chúa, xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày.

Second Reading (Romans 5:12-15)

A reading from the Letter of Saint Paul to the Romans

Brothers and sisters:
Through one man sin entered the world,
and through sin, death,
and thus death came to all men, inasmuch as all sinned—
for up to the time of the law, sin was in the world,
though sin is not accounted when there is no law.
But death reigned from Adam to Moses,
even over those who did not sin
after the pattern of the trespass of Adam,
who is the type of the one who was to come.

But the gift is not like the transgression.
For if by the transgression of the one the many died,
how much more did the grace of God
and the gracious gift of the one man Jesus Christ
overflow for the many.

The word of the Lord.

Bài đọc 2 (Rm 5:12-15)

Sự sa ngã của A-đam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

12 Thưa anh em, vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết ; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội. 13 Trước khi có Lề Luật, đã có tội lỗi ở trần gian. Nhưng nếu không có Luật, thì tội không bị kể là tội. 14 Thế mà, từ thời A-đam đến thời Mô-sê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như A-đam đã phạm. A-đam là hình ảnh Đấng sẽ tới.

15 Nhưng sự sa ngã của A-đam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người.

Đó là Lởi Chúa.

Hallelujah (John 15:26b, 27a)

R. Hallelujah, Hallelujah.
The Spirit of truth will testify to me, says the Lord;
and you also will testify.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (x. Ga 15:26b, 27a)

Hallelujah. Hallelujah. Chúa nói : Thần Khí sự thật sẽ làm chứng về Thầy. Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng về Thầy. Hallelujah.

Gospel (Matthew 10:26-33)

A reading from the holy Gospel according to Saint Mathew

Jesus said to the Twelve:
"Fear no one.
Nothing is concealed that will not be revealed,
nor secret that will not be known.
What I say to you in the darkness, speak in the light;
what you hear whispered, proclaim on the housetops.
And do not be afraid of those who kill the body but cannot kill the soul;
rather, be afraid of the one who can destroy
both soul and body in Gehenna.
Are not two sparrows sold for a small coin?
Yet not one of them falls to the ground without your Father's knowledge.
Even all the hairs of your head are counted.
So do not be afraid; you are worth more than many sparrows.
Everyone who acknowledges me before others
I will acknowledge before my heavenly Father.
But whoever denies me before others,
I will deny before my heavenly Father."

The Gospel of the Lord.

Tin Mừng (Mt 10:26-33)

Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

26 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : Anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. 27 Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày ; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng.

28 “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục. 29 Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không ? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. 30 Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. 31 Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.

32 “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. 33 Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.”

Đó là Lời Chúa.

Prayer of the Faithful

Priest Celebrant

God knows our supplications before we voice them.

Deacon or Lector

A For all who are called to lead the Church, 
working to evangelize all who seek the truth, 
we pray to the Lord:

B For those called to government service, 
striving to lead in ways of peace and justice, 
we pray to the Lord:

C For all who long for honorable employment 
and strive for a living wage, 
we pray to the Lord:

D For our fathers on this Father's Day, 
as they experience God's blessing in abundance, 
we pray to the Lord:

E For this parish community, 
as we do our best to reflect the face of Christ to others, 
we pray to the Lord:

Priest Celebrant

God, you are the Spirit of Truth. 
Hear the prayers we offer with hearts buoyed by your constant love. 
We ask this through Christ our Lord.



10 tháng 6, 2026

Hymns for the Eleventh Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (June 14, 2026)

 -Entrance Hymn: ES # 137 “Now Is The Time”


-Responsorial Psalm (Psalm 100:1-2, 3, 5) - EM page 197

R. (3c) We are his people: the sheep of his flock.
Đ. Ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt.

Sing joyfully to the LORD, all you lands;
    serve the LORD with gladness;
    come before him with joyful song.
R. We are his people: the sheep of his flock.
1 Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu,
2 phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ,
vào trước thánh nhan Người giữa tiếng hò reo.
Đ. Ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt.

Know that the LORD is God;
    he made us, his we are;
    his people, the flock he tends.
R. We are his people: the sheep of his flock.
3 Hãy nhìn nhận Chúa là Thượng Đế,
chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người,
ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt.
Đ. Ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt.

The LORD is good:
    his kindness endures forever,
    and his faithfulness to all generations.
R. We are his people: the sheep of his flock.
5 Bởi vì Chúa nhân hậu,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín.
Đ. Ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt.

Hallelujah (Mark 1:15)

R.    Hallelujah, Hallelujah.
The kingdom of God is at hand.
Repent and believe in the Gospel. 
R.   Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng  (Mc 1:15)

Hallelujah. Hallelujah. Chúa nói : Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng. Hallelujah.

General Intercessions

Presiding Minister

As priestly people consecrated to God, 
we intercede for the needs of the community.

Leader

A That all Christians of the world become one 
as the Father and the Son are one in each other, 
we pray to the Lord:

B That all who live on the earth 
respect its fragility and use its resources wisely, 
we pray to the Lord:

C That people whom we have offended 
accept reconciliation with us and with God, 
we pray to the Lord:

D That all God’s children, freed from sin by the death of Christ, 
be free from the chains of human bondage, 
we pray to the Lord:

E That we who gather here today in worship 
turn away from evil and choose to love our neighbor, 
we pray to the Lord:

Presiding Minister

Holy One, we know you are slow to anger and quick to forgive. 
Kindly listen to the prayers we entrust to you, and increase our faith. 
We ask this through Christ, our Lord.

-Offertory Hymn: ES # 320 “The God Of All Grace”


-Communion Hymn: ES # 181 “This Bread That We Share”


-Recessional Hymn: ES # 252 “O God, You Search Me”


The Holy Spirit Choir

7 tháng 6, 2026

Eleventh Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (June 14, 2026)

Daily Mass Reading Podcast for June 14, 2026


First Reading (Exodus 19:2-6a)

A reading from the Book of Exodus

In those days, the Israelites came to the desert of Sinai and pitched camp.
While Israel was encamped here in front of the mountain,
Moses went up the mountain to God.
Then the LORD called to him and said,
“Thus shall you say to the house of Jacob;
tell the Israelites:
You have seen for yourselves how I treated the Egyptians
and how I bore you up on eagle wings
and brought you here to myself. 
Therefore, if you hearken to my voice and keep my covenant,
you shall be my special possession,
dearer to me than all other people,
though all the earth is mine.
You shall be to me a kingdom of priests, a holy nation.”

The word of the Lord.

Bài đọc 1 (Xh 19:2-6a)

Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh.

Bài trích sách Xuất hành.

2 Hồi đó, con cái Ít-ra-en tới sa mạc Xi-nai, và dựng trại trong sa mạc. Ít-ra-en đóng trại ở đó, đối diện với núi.

3 Ông Mô-sê lên gặp Thiên Chúa. Từ trên núi, Đức Chúa gọi ông và phán : “Ngươi sẽ nói với nhà Gia-cóp, sẽ thông báo cho con cái Ít-ra-en thế này : 4 Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai-cập thế nào, và đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta. 5 Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. 6a Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh.”

Đó là Lời Chúa.

Responsorial Psalm (Psalm 100:1-2, 3, 5)

R. (3c) We are his people: the sheep of his flock.
Đ. Ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt.

Sing joyfully to the LORD, all you lands;
    serve the LORD with gladness;
    come before him with joyful song.
R. We are his people: the sheep of his flock.
1 Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu,
2 phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ,
vào trước thánh nhan Người giữa tiếng hò reo.
Đ. Ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt.

Know that the LORD is God;
    he made us, his we are;
    his people, the flock he tends.
R. We are his people: the sheep of his flock.
3 Hãy nhìn nhận Chúa là Thượng Đế,
chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người,
ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt.
Đ. Ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt.

The LORD is good:
    his kindness endures forever,
    and his faithfulness to all generations.
R. We are his people: the sheep of his flock.
5 Bởi vì Chúa nhân hậu,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín.
Đ. Ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt.

Second Reading (Romans 5:6-11)

A reading from the Letter of Saint Paul to the Romans

Brothers and sisters:
Christ, while we were still helpless, 
yet died at the appointed time for the ungodly.
Indeed, only with difficulty does one die for a just person,
though perhaps for a good person
one might even find courage to die.
But God proves his love for us
in that while we were still sinners Christ died for us.
How much more then, since we are now justified by his blood,
will we be saved through him from the wrath.
Indeed, if, while we were enemies,
we were reconciled to God through the death of his Son,
how much more, once reconciled,
will we be saved by his life.
Not only that,
but we also boast of God through our Lord Jesus Christ,
through whom we have now received reconciliation.

The word of the Lord.

Bài đọc 2 (Rm 5:6-11)

Chúng ta đã được hoà giải nhờ cái chết của Người Con, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

6 Thưa anh em, khi chúng ta không có sức làm được gì, vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta. 7 Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. 8 Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi ; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. 9 Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. 10 Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy. 11 Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hoà giải chúng ta với Thiên Chúa.

Đó là Lời Chúa.

Hallelujah (Mark 1:15)

R.    Hallelujah, Hallelujah.
The kingdom of God is at hand.
Repent and believe in the Gospel. 
R.   Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng  (Mc 1:15)

Hallelujah. Hallelujah. Chúa nói : Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng. Hallelujah.

Gospel (Matthew 9:36—10:8)

A reading from the holy Gospel according to Saint Matthew

At the sight of the crowds, Jesus’ heart was moved with pity for them 
because they were troubled and abandoned,
like sheep without a shepherd.
Then he said to his disciples,
“The harvest is abundant but the laborers are few;
so ask the master of the harvest
to send out laborers for his harvest.”

Then he summoned his twelve disciples
and gave them authority over unclean spirits
to drive them out and to cure every disease and every illness.
The names of the twelve apostles are these:
first, Simon called Peter, and his brother Andrew;
James, the son of Zebedee, and his brother John;
Philip and Bartholomew, Thomas and Matthew the tax collector;
James, the son of Alphaeus, and Thaddeus;
Simon from Cana, and Judas Iscariot who betrayed him.

Jesus sent out these twelve after instructing them thus,
“Do not go into pagan territory or enter a Samaritan town.
Go rather to the lost sheep of the house of Israel.
As you go, make this proclamation: ‘The kingdom of heaven is at hand.’
Cure the sick, raise the dead, cleanse lepers, drive out demons.
Without cost you have received; without cost you are to give.”

The Gospel of the Lord.

Tin Mừng (Mt 9:36-10:8)

Sau khi gọi mười hai môn đệ, Đức Giê-su đã sai các ông đi truyền giáo.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

9 36 Khi ấy, Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. 37 Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng : “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. 38 Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”

10 1 Rồi Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

2 Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ : đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông ; 3 ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô ; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế ; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô ; 4 ông Si-môn thuộc nhóm Nhiệt Thành, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người. 5 Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng :

“Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Sa-ma-ri. 6 Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en. 7 Dọc đường hãy rao giảng rằng : Nước Trời đã đến gần. 8 Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết trỗi dậy, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.”

Đó là Lời Chúa.

General Intercessions

Presiding Minister

As priestly people consecrated to God, 
we intercede for the needs of the community.

Leader

A That all Christians of the world become one 
as the Father and the Son are one in each other, 
we pray to the Lord:

B That all who live on the earth 
respect its fragility and use its resources wisely, 
we pray to the Lord:

C That people whom we have offended 
accept reconciliation with us and with God, 
we pray to the Lord:

D That all God’s children, freed from sin by the death of Christ, 
be free from the chains of human bondage, 
we pray to the Lord:

E That we who gather here today in worship 
turn away from evil and choose to love our neighbor, 
we pray to the Lord:

Presiding Minister

Holy One, we know you are slow to anger and quick to forgive. 
Kindly listen to the prayers we entrust to you, and increase our faith. 
We ask this through Christ, our Lord.


Đại Thánh Đường Kính Thánh Gia

Đức Thánh Cha Lê-ô XIV sẽ Tôn Thánh Kiến Trúc Sư An-tôn Gaudi, người đã khai sinh ra công trình kỳ diệu nầy.

2 tháng 6, 2026

Hymns for the Solemnity of the Most Holy Body and Blood of Christ, Liturgical Year A (June 7, 2026)

  -Entrance Hymn: ES # 132 “Let Heaven Rejoice”


-Responsorial Psalm (Psalm 147:12-13, 14-15, 19-20) - EM page 245

R. (12) Praise the Lord, Jerusalem.
Đ. Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !

Glorify the LORD, O Jerusalem;
praise your God, O Zion.
For he has strengthened the bars of your gates;
he has blessed your children within you.
R. Praise the Lord, Jerusalem.
12 Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !
Này Xi-on, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi !
13 Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc,
con cái trong thành, Người giáng phúc thi ân.
Đ. Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !

He has granted peace in your borders;
with the best of wheat he fills you.
He sends forth his command to the earth;
swiftly runs his word!
R. Praise the Lord, Jerusalem.
14 Cõi biên cương, Người thiết lập hoà bình,
và cho ngươi no đầy lúa mì tinh hảo.
15 Người tống đạt lệnh truyền xuống đất,
lời phán ra, hoả tốc chạy đi.
Đ. Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !

He has proclaimed his word to Jacob,
his statutes and his ordinances to Israel.
He has not done thus for any other nation;
his ordinances he has not made known to them. Alleluia.
R. Praise the Lord, Jerusalem.
19 Chúa bày tỏ lời Người cho nhà Gia-cóp,
chiếu chỉ luật điều cho Ít-ra-en.
20 Chúa không đối xử với dân nào như vậy,
không cho họ biết những điều luật của Người. Alleluia.
Đ.Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !

Sequence — Lauda Sion

CA TIẾP LIÊN "Lauda Sion: Hỡi Sion, Hãy Ngợi Khen"

Laud, O Zion, your salvation,
Laud with hymns of exultation,
Christ, your king and shepherd true:
1. Hỡi Sion, hãy ngợi khen Ðấng cứu độ ngươi, Ðấng lãnh đạo và mục tử của ngươi / với những bài vãn và những khúc ca!

Bring him all the praise you know,
He is more than you bestow.
Never can you reach his due.
2. Ngươi có sức chừng nào, hãy rán ngợi khen chừng nấy, vì Người vĩ đại hơn mọi lời khen ngợi, và ngươi cũng không đủ sức ngợi khen Người.

Special theme for glad thanksgiving
Is the quick'ning and the living
Bread today before you set:
3. Ðề tài của sự ngợi khen đặc biệt, đó là bánh sống và tác thành sự sống, ngày hôm nay đã đặt ra cho ngươi.

From his hands of old partaken,
As we know, by faith unshaken,
Where the Twelve at supper met.
4. Ðó là bánh mà trên bàn tiệc thánh, cho đoàn thể mười hai người anh em, Chúa đã ban tặng chẳng khá nghi ngờ.

Full and clear ring out your chanting,
Joy nor sweetest grace be wanting,
From your heart let praises burst:
5. Hãy xướng lên lời ca khen ngợi đầy đủ, lời ca hoan hỉ và râm ran, tâm thần hãy vui mừng rạng rỡ!

For today the feast is holden,
When the institution olden
Of that supper was rehearsed.
6. Vì đây là ngày trọng thể, ngày kỷ niệm bàn tiệc thánh / lần đầu tiên được thiết lập ra.

Here the new law's new oblation,
By the new king's revelation,
Ends the form of ancient rite:
7. Tại bàn tiệc này của Ðấng Tân Vương, lễ Vượt Qua mới theo luật pháp mới / chấm dứt lễ Vượt Qua của thời đại cũ.

Now the new the old effaces,
Truth away the shadow chases,
Light dispels the gloom of night.
8. Lễ nghi cũ nhường chỗ cho sự thực; đêm tối tăm nhường chỗ cho sự sáng sủa.

What he did at supper seated,
Christ ordained to be repeated,
His memorial ne'er to cease:
9. Ðiều mà Chúa Kitô đã làm trong bữa tiệc ly, thì Người đã ra lệnh cho thực thi điều đó để nhớ lại Người.

And his rule for guidance taking,
Bread and wine we hallow, making
Thus our sacrifice of peace.
10. Nhờ lời thánh huấn của Người dạy bảo, chúng ta làm phép cho bánh và rượu / trở nên lễ vật hy sinh ban ơn cứu độ.

This the truth each Christian learns,
Bread into his flesh he turns,
To his precious blood the wine:
11. Ðây là tín điều dạy người Kitô hữu rằng / bánh trở nên thịt Chúa, và rượu trở nên máu Người.

Sight has fail'd, nor thought conceives,
But a dauntless faith believes,
Resting on a pow'r divine.
12. Ðiều bạn không hiểu, không xem thấy, thì đức tin mạnh mẽ xác nhận xảy ra, ngoài luật lệ thiên nhiên.

Here beneath these signs are hidden
Priceless things to sense forbidden;
Signs, not things are all we see:
13. Dưới những hình sắc khác nhau, chúng chỉ là biểu hiệu, không còn thực chất, có ẩn nấp những thực tại cao siêu.

Blood is poured and flesh is broken,
Yet in either wondrous token
Christ entire we know to be.
14. Thịt Chúa là của ăn, máu Người là thức uống, nhưng Chúa Kitô vẫn còn đầy đủ dưới mỗi sắc hình.

Whoso of this food partakes,
Does not rend the Lord nor breaks;
Christ is whole to all that taste:
15. Người không bị kẻ lãnh nhận nghiền nát, không bị bẻ gẫy, không bị phân chia, nhưng Người được thiên hạ lãnh nhận toàn thân.

Thousands are, as one, receivers,
One, as thousands of believers,
Eats of him who cannot waste.
16. Một người lãnh nhận, ngàn người lãnh nhận, những người này cũng lãnh bằng những người kia, thiên hạ ăn thịt Người mà Người không bị tiêu hao.

Bad and good the feast are sharing,
Of what divers dooms preparing,
Endless death, or endless life.
17. Người lương thiện lãnh, kẻ ác nhân cũng lãnh, nhưng số phận họ không đồng đều: hoặc được sống hay là phải chết.

Life to these, to those damnation,
See how like participation
Is with unlike issues rife.
18. Kẻ ác nhân phải chết, người lương thiện được sống; hãy coi, cùng một của ăn như nhau, mà kết quả khác xa biết mấy.

When the sacrament is broken,
Doubt not, but believe 'tis spoken,
That each sever'd outward token
doth the very whole contain.
19. Hình bánh bị vỡ, chớ khá lo âu, nhưng hãy nhớ rằng / trong miếng vỡ cũng như trong toàn thể / Chúa vẫn hiện diện đầy đủ như nhau.

Nought the precious gift divides,
Breaking but the sign betides
Jesus still the same abides,
still unbroken does remain.
20. Bản chất không hề bị bẻ vỡ, duy có biểu hiệu bị phân chia, nhưng không giảm thiểu tình trạng và dáng vóc của Ðấng ẩn dật bên trong.

The shorter form of the sequence begins here.

Lo! the angel's food is given
To the pilgrim who has striven;
see the children's bread from heaven,
which on dogs may not be spent.
21. Này đây bánh của các thiên thần, biến thành lương thực của khách hành hương; thực là bánh của những người con cái, không nên ném cho loài khuyển.

Truth the ancient types fulfilling,
Isaac bound, a victim willing,
Paschal lamb, its lifeblood spilling,
manna to the fathers sent.
22. Bánh này đã được báo trước bằng hình ảnh, khi người ta sát tế Isaac, chiên của lễ vượt qua đã được kể ra, khi cha ông chúng ta được tặng manna.

Very bread, good shepherd, tend us,
Jesu, of your love befriend us,
You refresh us, you defend us,
Your eternal goodness send us
In the land of life to see.
23. Lạy Chúa Giêsu là mục thủ tốt lành, là bánh thực, xin Người thương xót, chăn nuôi và bảo vệ chúng con; xin Người ban cho chúng con nhìn thấy / những điều thiện hảo trong cõi nhân sinh.

You who all things can and know,
Who on earth such food bestow,
Grant us with your saints, though lowest,
Where the heav'nly feast you show,
Fellow heirs and guests to be. Amen. Alleluia.
24. Chúa là Ðấng thông biết và có thể làm nên mọi sự, Chúa nuôi dưỡng chúng con trong đời sống tạm gửi này, trên cõi cao xanh, xin cho chúng con được trở nên thực khách đồng bàn của Chúa, đồng thừa kế và đồng danh phận / với những công dân thánh của nước trời. Amen. Alleluia.

Hallelujah (John 6:51)

R. Hallelujah, Hallelujah.
I am the living bread that came down from heaven, says the Lord;
whoever eats this bread will live forever.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (Ga 6:51)

Hallelujah, Hallelujah. 
Chúa nói : Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. 
Hallelujah.

Prayer of the Faithful

Priest Celebrant

Let us pray in faith for one another and for the world’s needs.

Deacon or Lector

A That believers everywhere 
seek the Eucharist with greater faith, reverence, and desire, 
let us pray to the Lord:

B That the earth and the whole universe 
echo the beauty and love of the Eucharist, 
let us pray to the Lord:

C That those who live lives of loneliness and despair 
find comfort in the Eucharist, 
let us pray to the Lord:

D That Christians everywhere welcome Christ as their guest at every meal, 
and long to receive him with devotion at the table of the Eucharist, 
let us pray to the Lord:

E That these followers of Jesus 
become more like him through frequent reception of Communion, 
let us pray to the Lord:

Priest Celebrant

Loving Father, you give us lasting food for body and soul. 
Answer our prayers as we celebrate this eucharistic feast. 
We ask this through Christ, our Lord.

-Offertory Hymn: ES # 177 “One Bread, One Body”


-Communion Hymn: ES # 182 “Ang Katawan Ni Kristo”


-Eucharistic Adoration - Hymn ES #179 "Bread Of Life"


-Recessional Hymn: ES # 196 “Holy God, We Praise Thy Name”


The Holy Spirit Choir

The Solemnity of the Most Holy Body and Blood of Christ, Liturgical Year A (June 7, 2026)

 (CORPUS CHRISTI)


loi-nhap-the.com

Daily Mass Reading Podcast for June 7, 2026


First Reading (Deuteronomy 8:2-3, 14b-16a)

A reading from the Book of Deuteronomy

Moses said to the people:
"Remember how for forty years now the LORD, your God,
has directed all your journeying in the desert,
so as to test you by affliction
and find out whether or not it was your intention
to keep his commandments. 
He therefore let you be afflicted with hunger,
and then fed you with manna,
a food unknown to you and your fathers,
in order to show you that not by bread alone does one live,
but by every word that comes forth from the mouth of the LORD.

"Do not forget the LORD, your God,
who brought you out of the land of Egypt,
that place of slavery;
who guided you through the vast and terrible desert
with its saraph serpents and scorpions,
its parched and waterless ground;
who brought forth water for you from the flinty rock
and fed you in the desert with manna,
a food unknown to your fathers."

The word of the Lord.

Bài đọc 1 (Đnl 8:2-3, 14b-16a)

Thiên Chúa đã ban cho anh em thức ăn mà anh em cũng như cha ông anh em chưa từng biết.

Bài trích sách Đệ nhị luật.

2 Khi ấy, ông Mô-sê nói với dân Ít-ra-en rằng : “Anh em phải nhớ lại tất cả con đường mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã dẫn anh em đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc, để bắt anh em phải cùng cực ; như vậy Người thử thách anh em cho biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của Người hay không. 3 Người đã bắt anh em phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh em ăn man-na là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Đức Chúa phán ra.

14b “Anh em đừng quên Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, Đấng đã đưa anh em ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. 15 Người đã dẫn anh em đi trong sa mạc mênh mông khủng khiếp, đầy rắn lửa và bọ cạp, trong miền đất khô cằn không giọt nước. Người đã khiến nước từ tảng đá cứng nhất chảy ra cho anh em uống. 16a Trong sa mạc, Người đã cho anh em ăn man-na, thức ăn mà cha ông anh em chưa từng biết.”

Đó là Lời Chúa.

Responsorial Psalm (Psalm 147:12-13, 14-15, 19-20) - EM page 245

R. (12) Praise the Lord, Jerusalem.
Đ. Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !

Glorify the LORD, O Jerusalem;
praise your God, O Zion.
For he has strengthened the bars of your gates;
he has blessed your children within you.
R. Praise the Lord, Jerusalem.
12 Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !
Này Xi-on, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi !
13 Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc,
con cái trong thành, Người giáng phúc thi ân.
Đ. Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !

He has granted peace in your borders;
with the best of wheat he fills you.
He sends forth his command to the earth;
swiftly runs his word!
R. Praise the Lord, Jerusalem.
14 Cõi biên cương, Người thiết lập hoà bình,
và cho ngươi no đầy lúa mì tinh hảo.
15 Người tống đạt lệnh truyền xuống đất,
lời phán ra, hoả tốc chạy đi.
Đ. Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !

He has proclaimed his word to Jacob,
his statutes and his ordinances to Israel.
He has not done thus for any other nation;
his ordinances he has not made known to them. Alleluia.
R. Praise the Lord, Jerusalem.
19 Chúa bày tỏ lời Người cho nhà Gia-cóp,
chiếu chỉ luật điều cho Ít-ra-en.
20 Chúa không đối xử với dân nào như vậy,
không cho họ biết những điều luật của Người. Alleluia.
Đ.Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !

Second Reading (1 Corinthians 10:16-17)

A reading from the first Letter of Saint Paul to the Corinthians

Brothers and sisters:
The cup of blessing that we bless,
is it not a participation in the blood of Christ?
The bread that we break,
is it not a participation in the body of Christ?
Because the loaf of bread is one,
we, though many, are one body,
for we all partake of the one loaf.

The word of the Lord.

Bài đọc 2 (1 Cr 10:16-17)

Chỉ có một tấm Bánh, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

16 Thưa anh em, khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Ki-tô ư ? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao ? 17 Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể.

Đó là Lời Chúa.

Sequence — Lauda Sion

CA TIẾP LIÊN "Lauda Sion: Hỡi Sion, Hãy Ngợi Khen"

Laud, O Zion, your salvation,
Laud with hymns of exultation,
Christ, your king and shepherd true:
1. Hỡi Sion, hãy ngợi khen Ðấng cứu độ ngươi, Ðấng lãnh đạo và mục tử của ngươi / với những bài vãn và những khúc ca!

Bring him all the praise you know,
He is more than you bestow.
Never can you reach his due.
2. Ngươi có sức chừng nào, hãy rán ngợi khen chừng nấy, vì Người vĩ đại hơn mọi lời khen ngợi, và ngươi cũng không đủ sức ngợi khen Người.

Special theme for glad thanksgiving
Is the quick'ning and the living
Bread today before you set:
3. Ðề tài của sự ngợi khen đặc biệt, đó là bánh sống và tác thành sự sống, ngày hôm nay đã đặt ra cho ngươi.

From his hands of old partaken,
As we know, by faith unshaken,
Where the Twelve at supper met.
4. Ðó là bánh mà trên bàn tiệc thánh, cho đoàn thể mười hai người anh em, Chúa đã ban tặng chẳng khá nghi ngờ.

Full and clear ring out your chanting,
Joy nor sweetest grace be wanting,
From your heart let praises burst:
5. Hãy xướng lên lời ca khen ngợi đầy đủ, lời ca hoan hỉ và râm ran, tâm thần hãy vui mừng rạng rỡ!

For today the feast is holden,
When the institution olden
Of that supper was rehearsed.
6. Vì đây là ngày trọng thể, ngày kỷ niệm bàn tiệc thánh / lần đầu tiên được thiết lập ra.

Here the new law's new oblation,
By the new king's revelation,
Ends the form of ancient rite:
7. Tại bàn tiệc này của Ðấng Tân Vương, lễ Vượt Qua mới theo luật pháp mới / chấm dứt lễ Vượt Qua của thời đại cũ.

Now the new the old effaces,
Truth away the shadow chases,
Light dispels the gloom of night.
8. Lễ nghi cũ nhường chỗ cho sự thực; đêm tối tăm nhường chỗ cho sự sáng sủa.

What he did at supper seated,
Christ ordained to be repeated,
His memorial ne'er to cease:
9. Ðiều mà Chúa Kitô đã làm trong bữa tiệc ly, thì Người đã ra lệnh cho thực thi điều đó để nhớ lại Người.

And his rule for guidance taking,
Bread and wine we hallow, making
Thus our sacrifice of peace.
10. Nhờ lời thánh huấn của Người dạy bảo, chúng ta làm phép cho bánh và rượu / trở nên lễ vật hy sinh ban ơn cứu độ.

This the truth each Christian learns,
Bread into his flesh he turns,
To his precious blood the wine:
11. Ðây là tín điều dạy người Kitô hữu rằng / bánh trở nên thịt Chúa, và rượu trở nên máu Người.

Sight has fail'd, nor thought conceives,
But a dauntless faith believes,
Resting on a pow'r divine.
12. Ðiều bạn không hiểu, không xem thấy, thì đức tin mạnh mẽ xác nhận xảy ra, ngoài luật lệ thiên nhiên.

Here beneath these signs are hidden
Priceless things to sense forbidden;
Signs, not things are all we see:
13. Dưới những hình sắc khác nhau, chúng chỉ là biểu hiệu, không còn thực chất, có ẩn nấp những thực tại cao siêu.

Blood is poured and flesh is broken,
Yet in either wondrous token
Christ entire we know to be.
14. Thịt Chúa là của ăn, máu Người là thức uống, nhưng Chúa Kitô vẫn còn đầy đủ dưới mỗi sắc hình.

Whoso of this food partakes,
Does not rend the Lord nor breaks;
Christ is whole to all that taste:
15. Người không bị kẻ lãnh nhận nghiền nát, không bị bẻ gẫy, không bị phân chia, nhưng Người được thiên hạ lãnh nhận toàn thân.

Thousands are, as one, receivers,
One, as thousands of believers,
Eats of him who cannot waste.
16. Một người lãnh nhận, ngàn người lãnh nhận, những người này cũng lãnh bằng những người kia, thiên hạ ăn thịt Người mà Người không bị tiêu hao.

Bad and good the feast are sharing,
Of what divers dooms preparing,
Endless death, or endless life.
17. Người lương thiện lãnh, kẻ ác nhân cũng lãnh, nhưng số phận họ không đồng đều: hoặc được sống hay là phải chết.

Life to these, to those damnation,
See how like participation
Is with unlike issues rife.
18. Kẻ ác nhân phải chết, người lương thiện được sống; hãy coi, cùng một của ăn như nhau, mà kết quả khác xa biết mấy.

When the sacrament is broken,
Doubt not, but believe 'tis spoken,
That each sever'd outward token
doth the very whole contain.
19. Hình bánh bị vỡ, chớ khá lo âu, nhưng hãy nhớ rằng / trong miếng vỡ cũng như trong toàn thể / Chúa vẫn hiện diện đầy đủ như nhau.

Nought the precious gift divides,
Breaking but the sign betides
Jesus still the same abides,
still unbroken does remain.
20. Bản chất không hề bị bẻ vỡ, duy có biểu hiệu bị phân chia, nhưng không giảm thiểu tình trạng và dáng vóc của Ðấng ẩn dật bên trong.

The shorter form of the sequence begins here.

Lo! the angel's food is given
To the pilgrim who has striven;
see the children's bread from heaven,
which on dogs may not be spent.
21. Này đây bánh của các thiên thần, biến thành lương thực của khách hành hương; thực là bánh của những người con cái, không nên ném cho loài khuyển.

Truth the ancient types fulfilling,
Isaac bound, a victim willing,
Paschal lamb, its lifeblood spilling,
manna to the fathers sent.
22. Bánh này đã được báo trước bằng hình ảnh, khi người ta sát tế Isaac, chiên của lễ vượt qua đã được kể ra, khi cha ông chúng ta được tặng manna.

Very bread, good shepherd, tend us,
Jesu, of your love befriend us,
You refresh us, you defend us,
Your eternal goodness send us
In the land of life to see.
23. Lạy Chúa Giêsu là mục thủ tốt lành, là bánh thực, xin Người thương xót, chăn nuôi và bảo vệ chúng con; xin Người ban cho chúng con nhìn thấy / những điều thiện hảo trong cõi nhân sinh.

You who all things can and know,
Who on earth such food bestow,
Grant us with your saints, though lowest,
Where the heav'nly feast you show,
Fellow heirs and guests to be. Amen. Alleluia.
24. Chúa là Ðấng thông biết và có thể làm nên mọi sự, Chúa nuôi dưỡng chúng con trong đời sống tạm gửi này, trên cõi cao xanh, xin cho chúng con được trở nên thực khách đồng bàn của Chúa, đồng thừa kế và đồng danh phận / với những công dân thánh của nước trời. Amen. Alleluia.

Hallelujah (John 6:51)

R. Hallelujah, Hallelujah.
I am the living bread that came down from heaven, says the Lord;
whoever eats this bread will live forever.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (Ga 6:51)

Hallelujah, Hallelujah. 
Chúa nói : Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. 
Hallelujah.

Gospel (John 6:51-58)

A reading from the holy Gospel according to Saint John

Jesus said to the Jewish crowds:
"I am the living bread that came down from heaven;
whoever eats this bread will live forever;
and the bread that I will give
is my flesh for the life of the world."

The Jews quarreled among themselves, saying,
"How can this man give us his flesh to eat?" 
Jesus said to them,
"Amen, amen, I say to you,
unless you eat the flesh of the Son of Man and drink his blood,
you do not have life within you. 
Whoever eats my flesh and drinks my blood
has eternal life,
and I will raise him on the last day. 
For my flesh is true food,
and my blood is true drink. 
Whoever eats my flesh and drinks my blood
remains in me and I in him. 
Just as the living Father sent me
and I have life because of the Father,
so also the one who feeds on me
will have life because of me. 
This is the bread that came down from heaven. 
Unlike your ancestors who ate and still died,
whoever eats this bread will live forever."

The Gospel of the Lord.

Tin Mừng (Ga 6:51-58)

Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an

51 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

52 Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói : “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được ?” 53 Đức Giê-su nói với họ : “Thật, tôi bảo thật các ông : nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. 54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, 55 vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. 56 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. 57 Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. 58 Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”

Đó là Lời Chúa.

Prayer of the Faithful

Priest Celebrant

Let us pray in faith for one another and for the world’s needs.

Deacon or Lector

A That believers everywhere 
seek the Eucharist with greater faith, reverence, and desire, 
let us pray to the Lord:

B That the earth and the whole universe 
echo the beauty and love of the Eucharist, 
let us pray to the Lord:

C That those who live lives of loneliness and despair 
find comfort in the Eucharist, 
let us pray to the Lord:

D That Christians everywhere welcome Christ as their guest at every meal, 
and long to receive him with devotion at the table of the Eucharist, 
let us pray to the Lord:

E That these followers of Jesus 
become more like him through frequent reception of Communion, 
let us pray to the Lord:

Priest Celebrant

Loving Father, you give us lasting food for body and soul. 
Answer our prayers as we celebrate this eucharistic feast. 
We ask this through Christ, our Lord.


CHÚC MỪNG KỶ NIỆM NGÀY HÔN PHỐI CỦA THÂN NHÂN CA VIÊN VÀ CA VIÊN CA ĐOÀN THÁNH LINH TRONG THÁNG SÁU

 

Chú Phê-rô Nghiêm Trọng Chinh – Cô Cê-ci-li-a Trịnh Thị Kim Chi -- 21-06-1975


Tv 128 (127), 1-6 Hạnh phúc thay kẻ kính sợ Chúa

Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa,
ăn ở theo đường lối của Người.
Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng,
bạn quả là lắm phúc nhiều may.
Hiền thê bạn trong cửa, trong nhà
khác nào cây nho nhiều hoa trái;
và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mờn,
xúm xít tại bàn ăn.
Đó chính là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người.
Xin Chúa từ Xi-on xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc.
Ước chi trong suốt cả cuộc đời
bạn được thấy Giê-ru-sa-lem phồn thịnh,
được sống lâu bên đàn con cháu
Nguyện chúc Ít-ra-en vui hưởng thái bình.

The Holy Spirit Choir

CHÚC MỪNG LỄ BỔN MẠNG CHA PHÊ-RÔ LÂM PHƯỚC HÙNG, O.P. VÀ CA VIÊN TRONG THÁNG SÁU


Jun-29 Cha Phê-rô Lâm Phước Hùng, O.P.

Jun-13 An-tôn Trần Xuân Thành
Jun-24 Gio-an Bao-ti-xi-ta Nguyễn Thanh Tuấn
Jun-24 Gio-an Bao-ti-xi-ta Trần Xuân Thiện
Jun-29 Phao-lô Lã Quang Bình
Jun-29 Phê-rô Hồ Trung Đoàn
Jun-29 Phê-rô Lê Văn Giàu
Jun-29 Phê-rô Mai Văn Trí
Jun-29 Phê-rô Nguyễn Hữu Dũng
Jun-29 Phê-rô Bùi Công Duy
Jun-29 Phê-rô Nguyễn Văn Chiến
Jun-29 Phê-rô Ngô Minh Châu
Jun-29 Phê-rô Nguyễn Bảo Nhân

CHÚC MỪNG SINH NHẬT CHA GIO-AN NGUYỄN THIÊN MINH, O.P. VÀ CA VIÊN TRONG THÁNG SÁU

Kết quả hình ảnh cho happy birthday

Jun-8 Cha Gio-an Nguyễn Thiên Minh, O.P.
Jun-3 Ma-ri-a Phan Hoàng Kim
Jun-13 Tê-rê-sa Lâm Thái Hằng
Jun-19 Mo-ni-ca Lê Thị Thanh Thanh
Jun-26 Ma-ri-a Cê-ci-li-a Phạm Ngọc Minh Uyên


24 tháng 5, 2026

Hymns for the Solemnity of the Most Holy Trinity, Liturgical Year A (May 31, 2026)

 -Entrance Hymn: ES # 163 “Holy, Holy, Holy”


-Responsorial Psalm (Daniel 3:52, 53, 54, 55) - EM page 243

R. (52b) Glory and praise for ever!
Đ. Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.

Blessed are you, O Lord, the God of our fathers,
praiseworthy and exalted above all forever;
And blessed is your holy and glorious name,
praiseworthy and exalted above all for all ages.
R. Glory and praise for ever!
52 Lạy Chúa, chúc tụng Ngài
là Thiên Chúa tổ tiên chúng con,
xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.
Chúc tụng danh thánh Ngài vinh hiển.
xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.
Đ. Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.

Blessed are you in the temple of your holy glory,
praiseworthy and glorious above all forever.
R. Glory and praise for ever!
53 Chúc tụng Chúa trong thánh điện vinh quang,
xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.
Đ. Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.

Blessed are you on the throne of your kingdom,
praiseworthy and exalted above all forever.
R. Glory and praise for ever!
54 Chúc tụng Chúa trên ngôi báu cửu trùng,
xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.
Đ. Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.

Blessed are you who look into the depths
from your throne upon the cherubim,
praiseworthy and exalted above all forever.
R. Glory and praise for ever!
55 Chúc tụng Chúa, Đấng ngự trên các thần hộ giá
mà thấu nhìn vực thẳm,
xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.
Đ. Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.

Hallelujah (Cf. Revelation 1:8)

R. Hallelujah, Hallelujah.
Glory to the Father, the Son, and the Holy Spirit;
to God who is, who was, and who is to come.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (xin coi Kh 1:8)

R. Hallelujah, Hallelujah.
Xin dâng lời tôn vinh chúc tụng
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần
là Thiên Chúa đã có, hiện có và đang đến,
xin tôn vinh chúc tụng muôn đời. 
R. Hallelujah, Hallelujah.

Prayer of the Faithful

Priest Celebrant

God reaches out and calls us to ask for what we need. 
With faith in the Father, Son and Holy Spirit, we present these, our petitions.

Deacon or Lector

A That the Church seek an ever deeper communion 
with all who profess faith in the Father, Son, and Holy Spirit, 
we pray to the Lord:

B That the world leaders seek concord and not condemnation 
in solving the problems that affect us all, 
we pray to the Lord:

C That neighbors and friends live in peace 
for the good of their communities, 
we pray to the Lord:

D That all catechists and teachers of the faith be enriched by the Holy Spirit 
for the work they continue to do for the Church, 
we pray to the Lord:

E That the members of this community continue to seek 
new ways of encouraging one another as they live out their faith in the Trinity, 
we pray to the Lord:

Priest Celebrant

God–Father, Son, and Spirit, you guide and protect us through all our days. 
Hear and answer the prayers of your people, for we offer them in faith, 
through Christ our Lord.

-Offertory Hymn: ES # 320 “The God Of All Grace”


-Communion Hymn: ES # 178 “Taste And See”


-Recessional Hymn: ES # 388 “All Hail, Adored Trinity”


The Holy Spirit Choir